MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN CHỮ ĐẸP, MẸO VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ CHO HỌC LỚP 4
Lượt xem:
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Bối cảnh:
Từ xa xưa, cha ông ta đã có câu: “ Nét chữ là nết người”. Quả thật, chữ viết là một trong những công cụ giao tiếp thuận lợi và quan trọng nhất của con người. Chữ viết xuất hiện là bước ngoặt trong lịch sử văn minh của loài người. Chữ viết trở thành một công cụ vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển văn hóa, văn minh của từng dân tộc. Nhờ có chữ viết mà thông tin của con người được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Chưa cần biết nội dung văn bản đó viết như thế nào nhưng nếu chữ viết rõ ràng, đẹp thường làm cho người đọc có cảm tình ngay.
2. Lý do:
Con người không phải từ khi cắp sách tới trường đã biết viết chữ mà phải trải qua một quá trình rèn luyện rất kiên trì. Xưa kia đã có tấm gương rèn luyện của ông Cao Bá Quát – một người nổi tiếng là văn hay chữ tốt. Từ một người viết xấu đến mức không ai đọc được, nhưng nhờ có lòng kiên trì luyện tập mà ông trở thành một người có tài viết đủ các loại chữ, mà chữ nào cũng đẹp, cũng rõ ràng.
Khi xã hội ngày càng phát triển, sự giao lưu văn hóa diễn ra trên diện rộng giúp chúng ta học hỏi được rất nhiều những tư tưởng tiến bộ. Bên cạnh đó, kéo theo rất nhiều những biến đổi làm mờ đi vẻ đẹp văn hóa truyền thống vốn có của dân tộc.
Bậc tiểu học là bậc học tạo nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, đây là bậc học tạo tiền đề cơ bản nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu rất quan trọng để đào tạo thế trẻ. “Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên xã hội và con người, có kĩ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán.và là một môn học vô cùng quan trọng. Chỉ trong nhà trường tiểu học, học sinh mới được học, được rèn chữ viết. Bởi vậy, rèn chữ viết cho học sinh là một phân môn có vị trí quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của phân môn Tiếng Việt là rèn luyện và phát triển năng lực tiếng mẹ đẻ cho học sinh, trong đó có năng lực viết chữ.
Nét chữ là biểu hiện một phần tính cách của con người. Hiện nay, tình trạng viết sai lỗi chính tả ở học sinh rất nhiều, nếu không uốn nắn, sửa chữa kịp thời thì việc viết sai lỗi chính tả sẽ ảnh hưởng tới suốt quá trình học tập cua các em. Sau này, khi tốt nghiệp ra trường các em sẽ tạo ra những văn bản sai lỗi chính tả làm hạn chế việc giao tiếp trong xã hội của chính bản thân.
Học tập tấm gương của người xưa, nhiều năm nay, trong các nhà trường đều coi trọng giữ vở sạch chữ đẹp. Ngay từ khi các em bước vào lớp 1, các em đã được giáo viên rèn viết chữ. Như chúng ta đã biết, đối với học sinh tiểu học, việc rèn cho các em “viết đúng, viết đẹp” là một vấn đề rất quan trọng. Bởi vì chữ viết có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập của các em. Ngoài ra, việc rèn chữ viết sẽ rèn luyện cho học sinh những phẩm chất tốt như: tính cẩn thận, kiên trì, tính kỉ luật và óc thẩm mĩ.
Vậy làm thế nào để hạn chế việc viết sai lỗi chính tả ở học sinh tiểu học đó chính là băn khoăn trăn trở của tôi.
Với mục đích này, khi dạy chính tả tôi hình thành cho các em nắm bắt được một số mẹo, luật chính tả dưới dạng so sánh để các em có thể tránh được nhầm lẫn khi viết. Với những mẹo này, các em sẽ ghi nhớ rất nhanh và áp dụng vào trong bài viết của mình một cách chính xác hơn.
Một trong những nguyên nhân đưa đến thực trạng học sinh sai chính tả hiện nay là do các em đọc như thế nào thì viết như thế ấy. Các em chưa nắm vững quy tắc ngữ âm của chữ quốc ngữ và ít được biết đến một số mẹo luật chính tả cơ bản.
Từ thực tế trên, qua nhiều năm theo đi trong một khối và thực tế đứng lớp
giảng dạy tôi đã chọn sáng kiến này giúp học sinh viết đúng chính tả nhằm nâng
cao chất lượng dạy học chính tả ở trường tiểu học.
– Điều tra lỗi chính tả cơ bản thường hay mắc phải của học sinh, nguyên nhân
– Vận dụng các nguyên tắc dạy học trong phân môn chính tả hình thành kỹ năng viết đúng chính tả cho học sinh tiểu học.
– Xác định nguyên nhân thành công và từ đó nâng cao chất lượng chữ viết ở lớp 4 nói riêng, ở trường tiếu học nói chung.
3. Phạm vi và đối tượng:
Những biện pháp trên được triển khai cho tôi cùng các đồng chí giáo viên dạy tại trường Tiểu học mà tôi đang giảng dạy tham khảo vận dụng cho lớp mình.
4. Mục đích:
Qua nhiều năm dạy lớp 4 tôi thấy được những mặt tồn tại của học sinh khi viết chính tả là : Chữ viết không cẩn thận, sai nhiều lỗi chính tả. Những chữ rất đơn giản và gặp thường xuyên mà có em vẫn viết sai. Có tiếng có âm đầu tr/ch ; s/x ; gi/d ; th/tr ;…đặc biệt là các từ có dấu hỏi chấm hay dấu ngã….
Sở dĩ các em thường viết sai là do không nắm vững quy tắc viết chính tả hoặc do ảnh hưởng phụ âm của địa phương. Vậy muốn viết đúng chính tả trước tiên giáo viên cần giới thiệu cho học sinh hiểu nghĩa của các từ khó, phân tích kỹ lưỡng những từ học sinh thường viết sai trên lớp, có như thế thì mới khắc phục được lỗi cho học sinh.
Trên cơ sở phân tích kỹ nội dung chương trình của Bộ giáo dục và Đào tạo, phân tích kỹ đối tượng học sinh (đặc thù, trình độ tiếp thu, khả năng nghe, nói xem em đó có ngọng không thay đổi ở từng tiết học, sau mỗi nội dung đều có kinh nghiệm về kết quả thu được để tôi điều chỉnh và đi đến kết luận.
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm đề ra, tôi xây dựng nhóm phương pháp sau :
+ Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu và các văn bản chỉ đạo của các
cấp có liên quan.
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp trò chuyện
+ Phương pháp thu thập thông tin
+ Phương pháp hỗ trợ
+ Phương pháp thống kê.
Với mong muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy giúp học sinh viết đúng chính tả nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến : “ Một số biện pháp rèn chữ đẹp, mẹo viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4”.
II. NỘI DUNG.
1. Cơ sở lý luận:
Chữ viết hiện nay của người Việt là chữ viết ghi lại theo phát âm. Do đó việc viết đúng phải dựa vào việc đọc đúng, đọc đúng là cơ sở của viết đúng. Tuy nhiên do yếu tố vùng miền, cách phát âm của mỗi nơi một khác. Mặc dù những quy tắc, quy ước về chính tả được thống nhất theo ngữ pháp chung. Nhưng việc viết đúng chính tả trong học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp tôi nói riêng còn gặp nhiều khó khăn mà mỗi giáo viên và học sinh cần phải nỗ lực để khắc phục các khó khăn trên.
Một số giáo viên chưa chú ý đến đặc điểm của vùng miền đang ở. Không xác định rõ các lỗi chính tả cơ bản của học sinh trong lớp nên việc rèn chính tả không đi vào trọng điểm. Giáo viên ít củng cố và khắc sâu cho học sinh nắm các quy tắc, mẹo luật chỉnh tả qua bài văn hoặc bài tập. Hơn nữa việc phát âm của giáo viên chưa được chuẩn dẫn đến hạn chế về việc dạy và viết chính tả của học sinh. Bên cạnh đó tồn tại một thực trạng phổ biến hiện nay là : Nhiều giáo viên chưa nghiên cứu kỹ về chính tả cho bản thân và cho học sinh trong giờ dạy các
môn khác. Hầu hết giáo viên chỉ phát âm trong giờ tập đọc, chính tả còn các
môn khác phát âm theo kiểu bình thường của người địa phương. Ta vẫn biết
rằng việc phát âm không đúng, không chuẩn cũng ảnh hưởng rất lớn đến chính
tả.
2. Cơ sở thực tiễn:
2.1. Thuận lợi
* Đối với giáo viên:
– Năm học 2020 – 2021, dạy và học theo hướng phát triển năng lực học sinh, nên giáo viên đã nắm được yêu cầu của việc đổi mới phương pháp một cách cơ bản, việc sử dụng đồ dùng dạy học đã tương đối hiệu quả.
– Qua sự chỉ đạo chuyên môn của nhà trường cụ thể là ở tổ chuyên môn, và đặc biệt là phòng giáo dục đã có vai trò tích cực giúp giáo viên đi đúng nội dung, chương trình.
– Thông qua các tiết dạy mẫu, các cuộc thi, hội thảo, các chuyến đi tập huấn đã mang lại cho tôi nhiều kinh nghiệm, và thành công khi áp dụng vào giảng dạy.
– Các phương tiện thông tin đại chúng như: Tivi, đài phát thanh, rađio, sách, báo … nên bản thân đã tiếp cận với đổi mới phương pháp dạy và học một cách tích cực.
* Đối với học sinh:
– Học sinh lớp 4 ở giai đoạn này rất ham học. Đây là cơ sở giúp cho các em có kỹ năng viết tốt phân môn này.
– Môn Tiếng Việt nói chung đặc biệt là rèn kỹ năng viết đúng chính tả hay
chình thử nghiệm) được trình bày với kênh hình đẹp, trang thiết bị dạy học hiện đại, hấp dẫn học sinh, phù hợp với tâm lý lứa tuổi các em.
Tuy có những thuận lợi như vậy nhưng khó khăn vẫn còn tồn tại rất nhiều.
2.2. Khó khăn:
* Đối với giáo viên:
của năm đầu theo thông tư 22 (TT 22 áp dụng 6/11/2016). Hơn nữa đây là năm học thứ 4 nhà trường đã áp dụng phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới đối với tất cả các môn học. Phương pháp dạy học theo EN là một cách tổ chức trường học, tổ chức dạy học theo một quan điểm mới. Đây là một mô hình trường tiểu học hỗ trợ học sinh nâng cao năng lực tự học; hỗ trợ giáo viên hướng dẫn học sinh học tập, liên kết nhà trường với cộng đồng. Năm 2010, Bộ Giáo
Dục và Đào tạo đã quyết định thử nghiệm mô hình giáo dục tiên tiến này ở một
Trong thực tế hiện nay, thói quen và khả năng viết đúng chính tả của học sinh thực hiện chưa tốt. Đặc biệt là đối tượng học sinh tiểu học ở vùng nông
thôn, vùng sâu, vùng xa do điều kiện học tập ở nhà còn hạn chế. Các em ít được
rèn luyện về ngôn ngữ qua các phương tiện sách báo.
Học sinh còn mắc nhiều lỗi do chưa hiểu nghĩa của từ, chưa nắm được quy tắc chính tả, do phát âm chưa đúng “ch/tr; ng/ngh…”. Các em chưa nắm bắt được một số mẹo, luật chính tả dưới dạng so sánh. Từ đó các em hay viết sai lỗi về thanh điệu “dấu hỏi – dấu ngã”.
Tiếp đến là bàn ghế còn chưa hợp với một số em học sinh bởi do các em lớn qua hay thấp quá so với lứa tuổi cùng trang lứa.
Mặt khác, nhiều giáo viên còn chưa chú trọng đến chữ viết của mình khi viết mẫu, viết trên bảng để cho học sinh quan sát, xem nhẹ môn tập viết, chính tả,
thiếu sự nhiệt tình, ít quan tâm đến chữ viết của học sinh thường viết một cách
cẩu thả và tùy tiện.
Ở trường tiểu học hiện nay tôi đang công tác không nằm ngoài những khó
khăn đó. Vậy làm thế nào để dạy cho học sinh viết đẹp, mẹo nhớ được cách viết đúng chính tả, hay khắc phục được những lỗi trên đó là vấn đề mà tôi quan tâm đến.
3. Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề:
a. Thực trạng.
Năm học 2020 – 2021, tôi được phân công trực tiếp giảng dạy lớp 4E. Bước
đầu kiểm tra sách vở của học sinh, tôi rất băn khoăn và lo lắng về tình trạng chữ viết của học sinh. Hầu hết, chữ viết của các em chưa đúng với quy định chung. Bài viết còn mắc nhiều lỗi chính tả. Có thể nói các em mới chỉ nghĩ đến việc viết cho đủ, cho có bài chứ không quan tâm đến vấn đề hình thức và rèn lỗi chính tả, nhiều em nói thế nào thì viết thế ấy theo cửa miệng (vì nói ngọng). Tôi đã chủ động gặp giáo viên chủ nhiệm của các lớp trước để nắm tình hình chung đồng thời khảo sát lại kết quả tổng hợp về vở sạch chữ đẹp trong sổ chủ nhiệm của
giáo viên năm trước. Quả thật kết quả vở sạch chữ đẹp của học sinh đạt được
chưa cao.
Tôi thiết nghĩ, chữ viết không phải là năng khiếu bẩm sinh vốn có của con người mà viết đẹp hay xấu phụ thuộc phần lớn vào quá trình rèn luyện. Quá
trình đó lại phụ thuộc một phần vào bản thân người học và phụ thuộc phần nhiều
vào người trực tiếp hướng dẫn chỉ đạo quá trình rèn luyện đó. Vậy, trong quá trình rèn luyện chữ viết cho học sinh cần rèn luyện cho các em những gì? Đó là chúng ta tiếp tục củng cố kĩ thuật viết các nét cơ bản, nâng cao tốc độ viết, độ rộng của các con chữ.
– Cũng bắt nguồn từ vấn đề phát âm (nói) sai thì nhiều nguyên nhân khác
nhau mà việc viết đúng các từ có dấu hỏi hay dấu ngã, ch hay tr, ng hay ngh
cũng là một trong những trở ngại các em thường gây nhầm lẫn khi viết. Khi dạy tôi thường kết hợp một số mẹo dưới đây để giúp các em dễ dàng phân biệt khi
viết chính tả.
– Từ suy nghĩ đó, đồng thời qua thực tế dạy học sinh luyện viết chữ đẹp ở trường, tôi đã rút ra được một số giải pháp và tôi đã áp dụng thực tế vào việc rèn luyện chữ viết cho lớp tôi một các khá thành công.
– Trong phạm vi của bài viết, tôi chỉ đề cập đến “ Giúp học sinh viết đẹp, mẹo viết đúng chính tả ở lớp 4”
b. Biện pháp cụ thể.
1. Khơi gợi ở học sinh mong muốn viết chữ đẹp.
Tôi kể cho học sinh nghe những câu chuyện về gương viết chữ đẹp như Cao Bá
Quát, những bạn học sinh viết chữ đẹp ở trường…….Đồng thời cho các em
xem những bài viết đẹp của học sinh khác trước đó…. Từ đó gợi lên trong học
sinh lòng yêu thích và mong muốn viết chữ đẹp.
2. Những quy định chung:
– Cho học sinh học tập lại các quy định về mẫu chữ, kích cỡ chữ viết hoa và
viết thường theo quy định của Bộ GD- ĐT ban hành.
– Yêu cầu học sinh lựa chọn vở đúng mẫu, đúng quy cách.
– Thống nhất học sinh cũng một loại bút, một loại mực.
– Yêu cầu học sinh phải nhớ và thuộc quy định về các nét viết, độ cao, khoảng
cách giữa các con chữ trong tiếng, giữa các tiếng trong từ và luyện viết chữ theo quy định đó. Cụ thể :
a. Củng cố cho học sinh về độ cao các chữ trong bảng chữ mẫu viết thường :
+ Chữ cái b, g, h, k, l, y được viết chiều cao 2,5 đơn vị.
+ Chữ t được viết độ cao 1,5 đơn vị.
+ Chữ cái d, đ, p, q, được viết độ cao 2 đơn vị.
+ Chữ cái o, ô, a, ă, â, i, u, m, n, v, x cao 1 đơn vị.
+ Chữ cái ơ, r, s, cao 1,15 đơn vị.
+ Các chữ cái hoa : A, Ă, Â, B, C, ……….V, Y có chiều cao 2,5 đơn vị.
Riêng chữ Y và G cao 4 đơn vị.
+ Khoảng cách giữa các chữ cách chữ là một chữ o.
+ Các chữ có các con chữ trong một tiếng phải được nối liền mạch, liền nét.
+ Các dấu thanh, dấu phụ phải được đặt đúng quy định.
b. Những yêu cầu cơ bản của việc viết chính tả.
Trước hết, muốn viết chữ đúng mẫu, đẹp giáo viên cần phải nắm được những yêu cầu cơ bản của môn tập viết:
* Kiến thức: Giáo viên phải có hiểu biết về đường kẻ, dòng kẻ, độ cao, cỡ chữ, hình dáng và tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, khoảng cách giữa các nét và chữ cái, chữ ghi tiếng, cách viết các chữ viết thường, các chữ viết hoa, dấu thanh và chữ số.
* Kĩ năng: Viết đúng quy trình viết nét, viết chữ cái và liên kết chữ cái tạo ra
chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền mạch, viết thẳng hàng các chữ. Ngoài ra cần rền luyện các kĩ năng khác như: tư thế ngồi viết, cách cầm bút, đặt vở…
3. Biện pháp sửa lỗi chữ viết:
* Đối với học sinh viết sai độ cao các chữ cái:
– Trong hệ thống chữ cái Tiếng Việt mỗi nhóm chữ cái có đặc điểm riêng và độ cao khác nhau vì vậy học sinh mắc lỗi về độ cao các con chữ giáo viên cần phải:
– Giúp học sinh nắm vững hình dáng, cấu tạo, quá trình viết chữ cái. Trước hết
giáo viên cần cho học sinh nắm vững các dòng kẻ trong vở luyện viết, độ rộng
các nét chữ, chữ cái trong khung chữ mẫu.
– Trong vở luyện viết ( vở ô li) của các em đã có sẵn các dòng kẻ, giáo viên
hướng dẫn học sinh gọi tên các dòng kẻ. Các chữ cái có độ cao một đơn vị được
xác định từ dưới lên trên bằng dòng kẻ li 1 và đường kẻ li 2; đường kẻ li 5 các chữ cái có độ cao 2 đơn vị được xác định bằng đường kẻ li 1 đến đường kẻ li 3.
– Phân loại hệ thống chữ cái Tiếng Việt thành các nhóm, mỗi nhóm là các chữ cái có cùng độ cao đề học sinh luyện viết ( giáo viên gắn trong lớp hai bảng chữ cái mẫu chữ in hoa và chữ viết thường để học sinh quan sát và học tập).
Ví dụ: Các chữ cái b, g, h, k, l, y có chiều cao là 2,5 đơn vị tức là bằng hai lần
rưỡi chiều cao ghi nguyên âm ( a, o, u, n, m…).
– Đối với viết số, giáo viên cũng chia các chữ số theo nhóm để học sinh luyện viết.
* Đối với học sinh viết sai các nét chữ:
Để sửa lỗi này cho học sinh trước hết giáo viên cần cho học sinh nắm chắc tên gọi của từng nét chữ rồi hướng dẫn kĩ năng viết các nét chữ:
– Nét sổ thẳng: Điểm đặt bút trên đường kẻ 3, đặt từ trên xuống.
– Nét cong: Điểm đặt bút ở đường kẻ li 3 hoặc dưới 1/3 vòng sang trái hoặc sang phải tạo nét cong kín hoặc cong trái, cong phải. Khi viết nét cong kín không nhấc bút, không đưa bút ngược chiều.
– Nét khuyết: Cách viết nét khuyết dựa vào đường kẻ li 2 làm chuẩn.
->Nét khuyết trên: Điểm đặt bút từ đường kẻ li 2 giữa ô vuông nhỏ 1/2 đơn vị, đưa nét bút sang phải, lượn vòng lên trên chạm vào đường kẻ li 6 thì kéo thẳng xuống đường kẻ li 1, điểm dừng bút tại đường kẻ ngang 1.
->Nét khuyết dưới: Điểm đặt bút ở đường kẻ li 3 kẻ thẳng xuống gặp đưởng kẻ
ngang dưới thì lượn cong sang trái, đưa tiếp nét bút sang phải, điểm dừng bút
cao hơn đường kẻ li 1 một chút.
– Nét móc:
->Nét móc ngược: Điểm đặt bút xuất phát từ dòng kẻ li 3 kéo thẳng xuống gần
đưởng kẻ li 1 thì lượn cong nét bút chạm đường kẻ li 1 rồi đưa vòng lên dừng
bút tại li 2.
-> Nét móc xuôi: Điểm đặt bút thấp hơn đưởng kẻ li 3 trên 1/2 đơn vị, lượn cong
tròn nét bút dang bên phải sau đó viết tiếp nét thẳng đến khi chạm vào đường kẻ
li 1 thì dừng lại.
– Nét móc hai đầu: Nét này có phần nét móc xuôi phía trên rộng gấp đôi nét móc bình thường, phần nét móc phía dưới bằng độ rộng của nét móc ngược. Cách viết phối hợp giữa nét móc xuôi và nét móc ngược.
– Nét móc hai đầu có vòng ở giữa: Nét này có cấu tạo là một nét cong hở trái
và một nét cong hai đầu biến dạng. Viết nét cong hở trái trước sau đó viết tiếp
nét móc hai đầu. Sự chuyển tiếp giữa hai nét này phải đảm bảo yêu cầu: độ cong của nét móc hai đầu không quá lớn để kết hợp với nét cong hở tạo thành một vòng khép kín; điểm kết thúc nằm trên đưởng kẻ ngang một chút và rộng gấp đôi của nét mốc bình thường.
– Nét thắt ( nét vòng): Cấu tạo của nét thắt gồm hai nét cong biến thể ( một nét cong hở trái và một nét cong hở phải). Điểm đặt bút thấp hơn đường kẻ ngang giữa một chút đưa nét bút sang phải uốn 1 vòng nhẹ để tạo một nét cong khép kín. Điểm dừng lại tại đường kẻ li 2.
* Đối với học sinh viết sai khoảng cách giữa các con chữ:
– Trước hết giáo viên phải cho học sinh nắm vững khoảng cách giữa các con chữ trong từng tiếng, khoảng cách giữa các con chữ trong từng từ.
– Giúp học sinh nắm vững cấu tạo các con chữ dựa vào các ô vuông và chữ cái được chia thành các nhóm chữ. Dựa vào đặc điểm cơ bản của một số tiếng mà học sinh cần phải có khoảng cách giữa các con chữ hay dãn khoảng cách giữa các con chữ. Ví dụ: nhanh
Trong tiếng “ nhanh “ con chữ n phải giãn khoảng cách với con chữ h
thì mới đẹp.
* Đối với học sinh viết sai vị trí dấu thanh:
Giáo viên hướng dẫn học sinh cách đánh dấu thanh ngay bên trên hoặc bên
dưới âm chính của tiếng. Điều này không những giúp học sinh đánh dấu thanh đúng vị trí mà còn giúp các em viết đúng quy trình và nhanh hơn.
Ví dụ: nhà trường
Sau khi viếtchữ nh, a, từ điểm dừng bút của chữ a lia bút trên đầu chữ a
viết dấu huyền từ trên chéo sang phải không chạm đầu vào chữ cái a. Đối với tiếng “ trường” sau khi viết các chữ cái tr, u, o, ng từ điểm dừng bút của chữ cái g lia bút lên trên đánh dấu móc của các con chữ ơ cuối cùng là đánh dấu huyền trên con chữ ơ.
* Hướng dẫn học sinh làm quen với một số thuật ngữ trong quá trình rèn
chữ viết.
– Điểm đặt bút : Là điểm bắt đầu khi viết một nét trong một chữ cái. Điểm đặt bút có thể nằm ở đường kẻ ngang hoặc nằm trên đường kẻ ngang.
– Điểm dừng bút : Là vị trí kết thúc của nét chữ trong một chữ cái, điểm dừng
bút có thể trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên đường kẻ ngang.
– Viết liền mạch : Là thao tác đưa ngòi bút liên tục từ điểm kết thúc của nét đứng trước tí điểm bắt đầu của nét tiếp theo.
– Kĩ thuật lia bút: Để đảm bảo tốc độ trong quá trình viết một chữ cái hay viết nối các chữ cái với nhau, nét bút được thể hiện liên tục nhưng dụng cụ viết (đầu ngòi bút, phấn) không chạm vào mặt phẳng viết (giấy, bảng) thao tác trên không đó gọi là “lia bút”.
* Rèn tư thế ngồi viết và cách cầm bút.
– Tư thế ngồi viế: Khi viết cần phải ngồi ngay ngắn:
+ Lưng thẳng, đầu hơi cúi, mắt cách vở khoảng 25-30 cm.
+ Ngồi không tì ngực vào cạnh bàn, hai chân để thoải mái.
+ Tay trái tì giữa vở, tay phải cầm bút viết bằng 3 ngón tay : ngón cái, ngón
trỏ và ngón giữa.
– Cách cầm bút:
+ Khi viết cầm bút bằng tay phải, cầm bằng 3 ngón tay : ngón trỏ, ngón giữa,
ngón cái. Khuỷu tay di chuyển bút mềm mại, thoải mái từ trái sang phải.
+ Các chữ viết liền mạch, không nhắc bút từng nét, từng chữ cái.
4.1. Một số mẹo viết đúng dấu hỏi – dấu ngã:
* “ Huyền – ngã – nặng, sắc – hỏi – không
Để giúp các em dễ dàng viết đúng dấu hỏi – ngã, ta ghi nhớ câu thơ:
“Chị Huyền vác nặng – ngã đau
Anh Sắc – không – hỏi một câu được là”
Theo mẹo của câu trên, tôi hướng dẫn học sinh ghi nhớ quy tắc sau:
– Thanh ngã sẽ đi với thanh huyền hoặc thanh nặng trong các từ láy âm đầu
thuần Việt (đối với lớp 3, giáo viên chỉ nói các tiếng có phụ âm đầu giống nhau chứ không yêu cầu các em hiểu thế nào là từ láy).
– Thanh hỏi sẽ đi với thanh sắc hoặc thanh ngang (thanh không).
Ví dụ:
+ Huyền, ngã, nặng: dễ dàng, rõ ràng, buồn bã, hờ hững, cãi cọ, rõ rệt, mạnh mẽ, gặp gỡ,…
+ Sắc, hỏi, không: bảnh bao, sửa sang, hăm hở, thong thả, gửi gắm, rải rác, hớn hở, mát mẻ,…
4.2. Áp dụng quy tắc “Mình nên nhớ là viết dấu ngã”
a. Những từ Hán Việt bắt đầu có phụ âm đầu bằng d, v, n, m, l thì thường viết với dấu ngã (kể cả nh, ng, ngh)
* Khi áp dụng quy tắc này, tôi thường liệt kê ra một số từ ngữ mà các em thường gặp để phân tích so sánh, từ đó các em dễ nhớ và viết đúng hơn.
Ví dụ:
– D: dã man, dũng sĩ, anh dũng, bồi dưỡng, diễn đạt, diễn viên, diễm lệ,
kiều diễm, dẫn chứng, sở dĩ, dĩ nhiên, bất đắc dĩ, dữ liệu,…
– V: vĩ đại, hùng vĩ, vũ khí, vũ lực, vũ trang, dĩ vãng, vãng lai, vĩnh viễn, viễn thị, vĩ tuyến, cổ vũ, vũ khúc,….
– N: nỗ lực, phụ nữ, tầm nã, truy nã, trí não, nhẫn nại, kiên nhẫn, thanh
nhã, truyền nhiễm, tham nhũng, phiền nhiễu, thổ nhưỡng, ngẫu nhiên,….
– M: mã số, mã lực, mãnh liệt, mĩ mãn, mẫn cảm, thẩm mĩ, phụ mẫu, mẫu
số, miễn phí, miễn cưỡng,…
– L: lãnh đạo, lãng mạn, nghi lễ, lĩnh vực, chiếm lĩnh, cương lĩnh, triển
lãm, kết liễu, lão luyện, lão thành, lữ khách, thành lũy, lưỡng lự,…
– Còn có một số từ ngoại lệ khi viết ta dùng dấu hỏi: thức ngủ, nghỉ hè, nghỉ mát, ngải cứu,…
b. Đối với những từ còn lại được bắt đầu các phụ âm khác thì thường viết
với dấu hỏi.
Trừ các từ ngoại lệ sau đây: hoài bão, cưỡng bức, linh cữu, chiêu đãi,
quang đãng, phóng đãng, kinh hãi, hãm hại, kiêu hãnh, trì hoãn, hỗ trợ, hỗn hợp, hữu ích, bằng hữu, kĩ năng, phẫn nộ, giải phẫu, cùng quẫn, thi sĩ, bệnh
suyễn, tiễn biệt, thực tiễn, thanh tĩnh, mâu thuẫn, dự trữ, xã hội,…
4.3. Mẹo viết đúng Ch/Tr:
a. Dựa vào kết hợp âm để phân biệt:
Tr không bao giờ đi với các vần: oa, oă, oe, uê. Chỉ có Ch là có khả năng kết hợp với các vần trên (chuệch choạng, chuểnh choảng, choèn choẹt, chảnh chọe, loắt choắt, choàng vai, choáng váng, chim chích chòe,…)
b. Phân biệt Ch và Tr trong những từ láy (đối với lớp 4 giáo viên chỉ nói các tiếng có phụ âm đầu hoặc vần giống nhau chứ không yêu cầu các em hiểu thế nào là từ láy)
– Ch láy âm với các phụ âm đứng trước hoặc đứng sau.
– Ví dụ: Ch láy với B: chành bành, chèo bẻo, chơi bơi,..
c. Phân biệt Ch và Tr trong những danh từ (đối với lớp 4 các em hiểu đây là các từ chỉ người, các đồ vật, loài vật, cây cối, …).
– Những danh từ chỉ các mối quan hệ gia đình thường dùng CH chứ không phải là Tr (cha, chú, chị, chồng, cháu, chắt, chút, chít,…)
– Những danh từ chỉ các vật dụng trong gia đình lao động bình dân thường
bắt đầu bằng Ch (cái chum, chuồng gà, cái chậu, cái chổi, cái chai, cái
chén, cái chạn, cái chõng, cái chăn, chuồng trại, …).
d. Phân biệt Ch và Tr trong những từ Hán – Việt.
Những từ Hán – Việt có dấu nặng và dấu huyền đều được viết bằng Tr chứ không phải Ch (trừng trị, trùng hợp, lập trường, trù bị, từ trường, trụy lạc,
trục lợi, trận mạc, trịnh trọng,…)
4.4. Mẹo viết đúng Ng/Ngh:
Chữ ng (đọc là “ngờ” sẽ được thêm h khi nguyên âm đi sau đó là i (kể cả iê), e, ê (nghi, nghỉ, nghĩ, nghiên, nghiện, nghiệp, nghề, nghênh, nghếch, nghe, nghèn, nghẹt,…) ; còn đối với trường hợp khác thì không.
5. Lập thời gian biểu về luyện viết cho học sinh:
– Luyện viết vào vở ô li ở lớp vào các buổi chiều và giờ truy bài các ngày thứ 4, 6 hàng tuần.
– Ở nhà luyện viết vào vở thực hành chính tả mỗi tuần 2 bài.
6. Các cách luyện viết chữ:
a. Luyện trong giờ tập viết.
– Mục tiêu chính của giờ tập viết là rèn luyện kĩ năng viết chữ đúng mẫu và đẹp. Nội dung của phần tập viết là chủ yếu củng cố các chữ viết hoa. Từ đó, học sinh vận dụng vào viết từ ứng dụng và câu ứng dụng tương ứng với chữ hoa vừa học. Đối với việc rèn luyện kĩ năng viết chữ hoa, để viết đúng và đẹp đòi hỏi học sinh phải nắm được hình dáng, đặc điểm từng con chữ, các nét viết, các thao tác viết chữ và nhóm chữ.
Tâm lý học sinh tiểu học thường thiếu tính kiên trì luyện tập, khó thực hiện các động tác đòi hỏi sự khéo léo tỉ mỉ. Trong khi đó việc rèn luyện các thao tác
tập viết chữ lại đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ khéo léo cao.
Để khắc phục được nhược điểm này cho học sinh, giáo viên cần nắm vững các thao tác kỹ thuật viết từng con chữ và thường xuyên rèn luyện để có kỹ năng viết chữ hoa thành thạo, đúng, đẹp để viết mẫu cho học sinh. Đồng thời hướng dẫn thật cụ thể về :
+ Cấu tạo các âm trong vần, các vần trong tiếng và các tiếng trong câu.
+ Các nét viết, độ cao, khoảng cách giữa các con chữ.
+ Thao tác viết mẫu.
b. Luyện trong giờ chính tả.
Việc viết chính tả rèn cho học sinh biết quy tắc và có thói quen viết chữ ghi
tiếng Việt đúng với chuẩn. Chính tả cùng với tập viết, tập đọc giúp cho người
học chiếm lĩnh đọc Tiếng Việt văn hóa, là công cụ để giao tiếp, tư duy và học tập. Viết đúng chính tả giúp cho học sinh có điều kiện để sử dụng tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập các bộ môn văn hóa. Việc luyện viết chính tả liên tục kết hợp với ôn tập các quy tắc chính tả, học sinh sẽ có khả năng viết đúng các chữ ghi tiếng Việt, rèn luyện cho học sinh tính kỷ luật, tính cẩn thận, óc thẩm mĩ đồng thời bồi dưỡng lòng yêu quý tiếng Việt, chữ Việt, biểu thị tình cảm qua chữ viết.
-> Để thực hiện tốt việc luyện chữ trong giờ chính tả, trước hết giáo viên phải nắm rõ các lỗi chính tả cụ thể của từng học sinh. Qua kiểm tra tôi thấy học sinh thường phạm các lỗi chính tả sau :
+ Lẫn lộn giữa dấu hỏi và dấu ngã.
+ Nhầm lẫn giữa i, y : giữa các vần dễ lẫn như “a” với “uơ”, “uya” với ua.
+ Viết sai các phụ âm đầu như “c” với “k”, “ng” với “ngh”, với “g”, “d” với “gi”.
-> Để học sinh khắc phục được những lỗi trên, trước hết giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát âm đúng các từ đó.
->Rút ra các tiếng, các từ khó mà học sinh dễ viết sai trong bài chính tả để phân tích cụ thể về cấu tạo chính tả và hướng dẫn học sinh viết đúng.
-> Cho học sinh học thuộc luật ghi chính tả :
+ Viết k với các tiếng bắt đầu bằng i, e, ê
+ Viết c với các tiếng bắt đầu bằng các âm còn lại trong bảng chữ cái.
+ Viết ngh với các tiếng bắt đầu bằng i, e, ê
+ Viết ng với các tiếng còn lại.
+ Viết gh với các tiếng bắt đầu bằng i, e, ê.
+ Viết g với các tiếng còn lại.
c. Luyện trong các giờ học khác
Việc rèn chữ viết không phải chỉ thực hiện trong phân môn Tập Viết và Chính Tả mà phải thực hiện ở các môn học khác như viết chữ số trong môn Toán, viết đúng hành văn, ngữ pháp, chính tả trong phần làm văn.v.v….Việc rèn chữ cho học sinh không chỉ ngày một ngày hai mà cả một quá trình rèn luyện lâu dài. Để rèn chữ viết cho các em trong những môn học khác có hiệu quả, tôi đã phân chia các chữ cần luyện viết theo từng nhóm chữ để giúp các em có thể viết đẹp và nhanh.
Tôi đã tiến hành bằng cách : Cứ mỗi tuần tôi ghi lên lề trái của bảng lớp một nhóm chữ có nét tương đồng. Trong tuần đó tôi yêu cầu các em chú trọng hơn
về luyện viết nhóm chữ đó trong các bài học. Tùy vào độ khó của từng nhóm
chữ mà có thời gian luyện thích hợp. Tôi phân chia như sau :
* Chữ viết thường:
+ Nhóm 1: Các chữ có nét cong phối hợp với nét móc hoặc nét thẳng như : a, ă, â, d, đ, g. Tôi đã dạy nhóm chữ này vào 3 tuần, cụ thể :
Tuần 1: Tôi ghi các chữ có nét cong : a, ă, â lên lề trái bảng, hướng dẫn học sinh khi viết quan sát các chữ trên để vận dụng viết đúng các tiếng. Hàng ngày kiểm tra thường xuyên và chú trọng xem các em đã luyện viết tốt các chữ này chưa, đồng thời đưa ra nhận xét ngay cho học sinh để học sinh rút kinh nghiệm và điều chỉnh kịp thời.
Tuần 2: Tôi ghi tiếp 3 chữ có nét cong như : d, đ, g sang bên trái lề bảng và tiếp tục hướng dẫn học sinh luyện viết tiếp những tiếng có chữ tiếp theo. Yêu cầu học sinh khi viết cần chú ý vào mẫu để viết được chuẩn xác. Khi nhận xét bài của học sinh tôi gạch chân những chữ viết chưa đúng nét, nhắc nhở để các em biết chỉnh sửa vào tiết học sau.
Tuần 3: Tôi củng cố lại tất cả các chữ thuộc nhóm chữ trên, kiểm tra các em viết xem đã viết đúng chữ, đánh giá nhận xét cụ thể.
+ Nhóm 2: Các chữ có nét cong như : o, ô, ơ, c, e, ê, x
+ Nhóm 3: Nhóm chữ có nét cơ bản là nét móc như : i , u, ư, n, m, t, p
+ Nhóm 4: Các chữ có nét khuyết trên, khuyết dưới như : l, h, k, b, g, y
+ Nhóm 5: Các chữ có nét tương đồng là nét cong (khó), nét thắt như : r, s, v, b
Tôi tiến hành rèn cho học sinh như ở nhóm 1. Sau mỗi một nhóm tôi lại có
bài ôn tập để rèn lại các nhóm chữ đã được luyện. Với biện pháp rèn chữ như trên, tôi thấy học sinh đã năng chữ viết lên một cách vượt bậc. Từ đó, tôi rút ra một điều là luyện chữ viết cho học sinh cần phải có thời gian. Giáo viên phải chấm, nhận xét bài thật tỉ mỉ, thường xuyên nhắc nhở và đôn đốc học sinh có ý
thức rèn luyện thì lúc đó học sinh mới đạt được kết quả tốt: Trình bày đẹp, chữ
viết rõ ràng, sạch đẹp.
5. Một số biện pháp khác:
a. Nhân rộng điển hình.
Dựa vào đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học là hay bắt chước. Vì thế, ngay từ
đầu năm học, tôi đã phân loại học sinh, đối với học sinh viết chữ tốt, tôi luôn
chú trọng, nhân rộng. Những bài viết đẹp và những bộ hồ sơ đẹp của học sinh. Tôi trưng bày cho cả lớp xem và học tập. Ngoài ra tôi còn xếp những học sinh viết chữ đẹp ngồi xen kẽ những em viết chưa chuẩn mẫu vào một nhóm và hướng cho các em học tập nhau, nhắc nhở nhau cùng tiến bộ.
b. Chọn bút và vở:
Một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào việc viết chữ đẹp đó là bút viết và vở viết. Vì vậy, ngay từ đầu năm học giáo viên phải hướng dẫn học sinh
mua loại vở do nhà trường đặt và lựa chọn. Chọn loại bút máy phù hợp, bút viết
nét mảnh, mực đều đặn.
Giáo viên yêu cầu học sinh viết đúng vở quy định của nhà trường, bút cùng một màu mực vừa thuận tiện trong việc rèn luyện chữ viết, vừa thuận lợi cho
việc xây dựng hồ sơ vở sạch chữ đẹp của lớp.
c. Các yếu tố có liên quan.
– Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm – âm thế nào, chữ ghi lại thế ấy.
– Phân tích, so sánh.
– Luyện viết trên bảng con.
– Đối với chính tả (nghe – viết), đối với đối tượng này thì tôi đọc câu ngắn
và đọc lại nhiều lần cho các em viết để khuyến khích viết đúng chính tả.
– Luyện tập chính tả: phần này tôi thường vận dụng các mẹo trên để phân tích, so sánh cho các em hiểu được nghĩa của từng từ để các em điền đúng (âm,
vần hoặc từ) theo yêu cầu của bài tập chính tả.
– Sau mỗi tiết Chính tả tôi thường xuyên chọn bài viết của những em hay
Nói tóm lại: Trong quá trình giảng dạy, tôi thường xuyên thống kê chính xác những lỗi chính tả phổ biến mà học sinh thường viết sai. Từ đó giúp cho tôi
tìm ra được biện pháp và hình thức dạy học phù hợp với từng đối tượng học
sinh của lớp mình.
Ngoài ra, tôi còn lưu ý hướng dẫn cho các em khi đọc bài phải phát âm chuẩn, các từ đã nêu trên và nhất là trong tiết Tập đọc tôi đặc biệt chú ý đến những em hay phát âm sai. Những đối tượng này, rèn cho các em có thói quen nghe và nhìn cô đọc để bắt chước đọc cho đúng.
4. Kết quả, hiệu quả mang lại:
Sau thời gian kiên trì thực hiện các biện pháp nêu trên, chất lượng học sinh ở môn Tiếng Việt đặc biệt là phần viết chữ của lớp 4E năm học 2020-2021 (giữa học kỳ II) do tôi trực tiếp giảng dạy đã có sự tiến bộ rõ rệt qua từng thời điểm. Số học sinh đọc sai, viết sai những lỗi nêu trên, viết xấu, giảm đi đáng kể chắc chắn đến cuối năm học 2020-2021 lớp 4E sẽ không còn học sinh viết sai những lỗi đã nêu trên cụ thể:
- Với học sinh rất có ý thức trau rồi chữ viết.
- Chữ viết tiến bộ nhiều so với mỗi tuần học.
Với kết quả đạt được như trên, tôi đã mạnh dạn trao đổi kinh nghiệm rèn chữ viết cho học sinh lớp mình với các giáo viên trong tổ, với chuyên môn của nhà trường và nhận được sự đồng tình ủng hộ cao.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Sự đổi mới công tác dạy và học ở bậc tiểu học đã tạo điều kiện cho chúng tôi phát huy sở trường trong dạy học, mạnh dạn trong việc đề ra những giải pháp trong giảng dạy, giáo dục học sinh phù hợp với từng đối tượng. Từ đó giúp học sinh dễ dàng hơn trong việc phát huy ưu điểm và khắc phục, sửa chữa những hạn chế của bản thân. Vì vậy, chúng ta cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về quan điểm đổi mới để vận dụng vào thực tiễn. Những biện pháp trên các đồng chí giáo viên dạy từ lớp 2 đến lớp 5 tại trường Tiểu học hiện nay tôi đang
công tác nói riêng và huyện nhà nói chung có thể tham khảo vận dụng cho lớp
mình.
Bài học kinh nghiệm mà tôi đã đúc ra được để dạy tốt phân môn chính tả, rèn chữ cho học sinh, giáo viên cần:
+ Nắm vững chương trình của lớp mình dạy.
+ Tìm hiểu đặc điểm tính cách của từng học sinh.
+ Rèn cho hoc sinh ngồi đúng tư thế.
+ Có ý thức tự học, tự bồi dưỡng.
+ Lựa chọn những phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh.
+ Tạo không khí lớp học sôi nổi trong dạy học, phát huy được tính tích cực của học sinh.
Trên đây là: “Sáng kiến:Một số biện pháp rèn chữ đẹp, mẹo viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4” mà bản thân tôi đã thực hiện trong quá trình giảng dạy đạt hiệu quả rất cao.
Rất mong sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo và được đồng nghiệp tham
khảo.
2. Kiến nghị, đề xuất:
Trong quá trình giảng dạy bản thân tôi đề ra một số giải pháp nhỏ giúp học
sinh lớp Bốn “Viết đẹp và mẹo viết đúng chính tả” đã mang lại kết quả khả quan, tuy sáng kiến nhỏ nhưng đó là một sự nỗ lực rất lớn của bản thân. Rất
mong được các cấp lãnh đạo giúp tôi phát huy năng lực, không ngừng nâng cao
chất lượng giảng dạy, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao .
Tôi mong muốn sáng kiến kinh nghiệm trên có thể được các đồng nghiệp tham khảo trong quá trình gi
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nhật Tân, ngày 02 tháng 3 năm 2022
Người viết
Nguyễn Thị Nga